Ingredients Cosmetic

Hoạt chất đặc trị thế hệ mới: Hiệu quả, không tác dụng phụ, không gây kích ứng!

Để đặc trị những vấn đề về da, chúng ta thường sử dụng những chất đặc trị để đạt được hiệu quả nhanh chóng. Tuy vậy, đi kèm với hiệu quả thì thường là những tác dụng phụ không mong muốn như kích ứng, khô da, khó bảo quản, không ổn định….Thật may là thế giới mỹ phẩm không ngừng phát triển và các nhà khoa học đã nghiên cứu ra những hợp chất đặc trị thế hệ mới, thừa kế những tác dụng tuyệt vời của bản gốc nhưng lại dịu nhẹ, an toàn và khắc phục được những hạn chế của các phiên bản trước.

1, Trans-retinoic acid ester complex

Phức hợp ester của Acid Retinoic được đưa vào sản phẩm oil nổi tiếng là Luna Sleeping Night Oil của Sunday Riley. Theo đó, hợp chất này có khả năng làm giảm sự xuất hiện của lỗ chân lông và nếp nhăn, cải thiện các dấu hiệu lão hóa sớm, bao gồm các nếp nhăn, kết cấu da không đồng đều, đốm nâu, da khô và thô ráp. Trans-retinoic acid ester hỗ trợ làn da khỏe mạnh với sức mạnh của retinoids, nhưng không gây kích ứng da với nhiều tác dụng phụ như retinol truyền thống; giúp tẩy da chết và kích thích tái tạo tế bào khiến làn da mượt mà, trẻ trung hơn.

Ảnh: http://www.dollzindubai.com/

Tuy vậy, để định nghĩa một cách chính xác về Trans-retinoic acid ester quả thật không dễ. Có lẽ khái niệm này còn mới và dễ gây hiểu lầm. Mình hiểu đây là Tretinoin (Retinoic Acid) được đưa về dạng ester. Nhưng mình chỉ quan tâm là hợp chất này có đúng như quảng cáo của nhà sản xuất là có tác dụng rõ rệt của Retinoids nhưng không gây kích ứng mà thôi.

Thông tin về Trans-retinoic acid ester thực sự rất hạn chế. Hơn nữa đây chỉ là một tên gọi chung chung, kiểu là một nhóm chứ dạng nào được sử dụng thì lại là bí mật công thức của nhà sản xuất. Theo những gì mình tìm hiểu được thì đúng là có một số nguồn khẳng định dạng ester của Retinoic Acid mới có tác dụng thực sự trên da, hơn cả Retinoids truyền thống.

Có rất nhiều este của vitamin A, với thường được sử dụng nhất là Retinyl Palmitate và Retinyl Acetate. Vitamin A thường được tìm thấy trong da chủ yếu là Retinyl Palmitate, là dạng vitamin A thường thấy trong gan. Retinyl Palmitate chiếm khoảng 80% lượng vitamin A trong da.

Theo kết luận của một bài nghiên cứu trên The Journal of Bioloical Chemistry, chất chuyển hóa chủ yếu của Retinol là chất Retinyl Ester. Chất này có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng, tăng nhanh về số lượng tế bào Keratinocytes – tế bào sừng (nghĩa là sự sản sinh tế bào mới được đẩy nhanh hơn hoặc đảm bảo cho chu kỳ thay da bình thường). Người ta đã phát hiện ra là sau khi bôi 0,4% Retinol thì Retinyl Ester là chất chuyển hóa chính được hình thành. Khi bôi Retinol, chỉ dưới 1% Retinol chuyển thành Retinoic Acid và có tác dụng trên da chúng ta bất kể tăng nồng độ Retinol lên bao nhiêu phần trăm.  Như vậy, có thể thấy sự thay đổi, cải thiện làn da, quy định sự hình thành và hoạt động tế bào sừng Keratinocytes là do Retinyl Ester tác động.

               Minh họa quá trình tổng hợp Este Retinl trong tế bào Keratinocytes của con người

 

Dựa theo mô hình chuyển hóa retinoltrong da người có thể thấy: Retinol khi bôi lên da sẽ xảy ra 2 sự chuyển hóa ở Thượng bì và Hạ bì thành Retinoic Acid (RA) và Retinyl este (RE) – 2 thứ mà da có thể “sử dụng” được. Retinyl este (RE), được hình thành trong keratinocytes ban đầu, có thể được thủy phân để giải phóng tất cả trans-retinol. Có 2 loại Enzyme giúp chuyển đổi Retinol thành Retinyl este là  acyl-CoA:retinol acyltransferase (ARAT) ở lớp Thượng bì (Epidermis) và lecithin:retinol acyltransferase (LRAT) ở lớp Hạ bì (Dermis). Điều đáng nói là: Ở da người bình thường, sự este hóa retinol xảy ra ở Hạ bì sẽ gấp 4 lần ở các lớp tế bào trên (trong điều kiện của sự đầy đủ retinol). (Nguồn: tại đâytại đây với tiêu đề: Tự động điều hòa quá trình tổng hợp acid retinoic qua quy định Este hóa retinol trong Keratinocytes của con người )

Khả năng tự nhiên chứa vitamin A trong da xác định mức độ acid retinoic được tìm thấy trong tế bào. Do đó, việc sử dụng Retinyl Palmitate và các este Vitamin A khác vào da là một cách dễ dàng để tăng lượng Retinoic Acid trong tế bào.

Nghiên cứu về sự trao đổi chất Retinyl Palmitate với Retinol (vitamin A)  trong việc hấp thụ qua da bởi một số nhà khoa học được FDA công nhận cho thấy: Retinyl Palmitate là một thành phần được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm mỹ phẩm, được quảng bá vì những tác dụng có lợi xuất hiện trên da. Một nghiên cứu năm 2011 trên Skin Research and Technology đã chứng minh rằng kem chứa 0.060% retinyl retinoate có khả năng giảm độ sâu và diện tích nếp nhăn tương đương như kem chứa 0.075% Retinol (nguồn). Trong một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên và có kiểm soát, 11 phụ nữ Hàn Quốc đã sử dụng kem retinyl retinoate (retinyl ester) 0.060% trong ba tháng. Kết quả, việc cải thiện nếp nhăn trực quan và tỷ lệ cải thiện sự mịn màng của da đối với kem chứa 0.060% retinyl retinoate cao hơn 22% so với kem chứa 0.075% Retinol (nguồn).

Các nghiên cứu cho thấy các enzym có trong da chuyển hóa thành phần này trong quá trình hấp thụ vào da. Họ phát hiện ra rằng trong da người, 44% retinyl palmitate hấp thụ được thủy phân thành Retinol. Chỉ bằng việc sử dụng Retinyl Palmitate trong các mỹ phẩm có thể dẫn đưa retinol vào da.

Có thể tóm gọn ở đây là: Retinol và các phái sinh khác hấp thụ vào da và chuyển thành Retinoic Acid sẽ không đáng kể bằng việc hấp thụ số lượng lớn hơn Retinoic Acid Este rồi tự tế bào da sẽ chuyển hóa thành Retinoic Acid.

Hơn nữa, dạng Este, theo lý thuyết là tan trong dầu nên khả năng thẩm thấu qua màng lipid của da sẽ tốt hơn giống như Tetrahexyldecyl Ascorbate vậy. Ngoài ra dạng Este ít gây tác dụng phụ trên da ví dụ như khô da, bong tróc thì có thể giải thích về mặt hoá học là: Dạng acid thường háo nước sẽ hút nước trong tế bào da, từ Tretinoin đến Salicylic Acid, Glycolic Acid đều gây khô da.  (ngày xưa học làm thí nghiệm Acid Sulfuric thì phải đổ acid vào nước chứ không được đổ nước vào acid ấy). Còn ở dạng Este – thu được từ phản ứng acid với rượu thì phân tử này ở dạng “no”, 2 đầu có gốc nên không háo nước,  sẽ không gây khô da, bong tróc, kích ứng.

Mình cũng có tìm thấy thông tin về bằng sáng chế Trans-retinoic acid ester mà cụ thể là 9-cis retinoic acid esters của William P. Purcell năm 1998. Theo đó, chất này đúng là có khả năng điều trị gần như tất cả các vấn đề về da như Tretinoin nhưng lại không hề gây kích ứng da. Thế nên, nếu như muốn hưởng lợi ích từ Retinoids nhưng không muốn chịu tác dụng phụ do nhóm chất này gây ra thì giờ bạn đã có lựa chọn khác rồi nhé.

2, 3-O-ethyl ascorbic acid

Vitamin C thế hệ mới được giới thiệu trong sản phẩm  Clearly Corrective™ Dark Spot Solution của Kiehl’s. 

Ảnh: Internet

Vitamin C thế hệ mới này có tác dụng như làm sáng da, trị thâm, chống lão hóa, tăng cường collage như các dạng Vitamin C truyền thống nhưng lại không bị quy định bởi độ pH cũng không phải bảo quản trong chai tối màu hay trong tủ lạnh. Nhờ vậy, kể các những làn da mụn cũng không ngại độ acid của vitamin C sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng mụn.

Tác dụng của 3-O-ethyl ascorbic acid:

  • Ức chế hoạt động của Tyrosinase, ngăn chặn sự tổng hợp melanin, làm sáng da
  • Đẩy nhanh việc tổng hợp collagen, tăng cường sự đàn hồi của da
  • Chống oxy hóa mạnh mẽ, loại bỏ các gốc tự do trong cơ thể
  • Chống viêm da, ức chế các vi khuẩn
  • Mức độ ổn định trước ánh sáng, nhiệt, axit, kiềm, muối và oxy cao.
  • Không gây kích ứng, tấy đỏ, châm chích thậm chí cả với mắt (trong thí nghiệm)

3-O-ethyl ascorbic acid có cấu trúc hóa học ổn định bởi nhóm ethyl ở vị trí C3. Cấu trúc này có thể tránh được sự oxy hóa 3-O-ethyl ascorbic acid, giúp hoạt chất này không bị đổi màu nhưng vẫn rất dễ dàng thẩm thấu vào da và chuyển hóa trong cơ thể như  ascorbic acid tinh khiết. 3-O-ethyl ascorbic acid còn là một chất ưa mỡ và ưa nước độc đáo. Nhờ đó, nó có thể dễ dàng nhập vào lớp hạ bì và phát huy tác dụng mạnh mẽ, trong khi ascorbic acid tinh khiết gần như không thể thẩm thấu vào lớp hạ bì. Thay vì nồng độ cao từ 10 – 15% để có tác dụng như ascorbic acid thông thường thì chỉ cần 0,1-3,0%

Về khả năng chống oxy hóa của 3-O-ethyl ascorbic acid. Người ta đã thí nghiệm: 0.05mmol/L 3-O-ethyl ascorbic acid hoàn toàn có thể ức chế quá trình oxy hóa của 1/100mol oleic acid (5.0mmol). Cùng thời gian đó, 0.01mmol/L tocopherol chỉ có thể ức chế quá trình oxy hóa hành động của 1/500mol oleic acid. Do đó, khả năng chống oxy hóa của acid ascorbic 3-O-ethyl là nhiều hơn 5 lần so với tocopherol (Vitamin E).

Thông thường LAA rất dễ bị đổi màu, phải bảo quản trong lọ tối màu và tủ lạnh cũng như phải sử dụng trong 3 tháng với độ pH < 4 .Hay một số form khác của vitamin C cũng phải đựng trong lọ tối màu và thường không thích hợp với da mụn. Ngược lại 3-O-ethyl ascorbic acid không có điều kiện bảo quản đặc biệt, thậm chí có thể đựng trong lọ sáng màu, để nhiệt độ phòng nhưng tất nhiên các bạn không thể đem phơi nó ngoài nắng được.

3, Gluconolactone (PHA)

Những acid thuộc nhóm AHAs có tác dụng tẩy da chết tuyệt vời, nhanh chóng đem lại làn da sáng bóng với các vết thâm mờ nhanh chóng. Tuy vậy, những AHAs mà điển hình là Glycolic Acid lại dễ gây kích ứng và khô da, đặc biệt là với những làn da nhạy cảm.

Nhờ vậy mà Gluconolactone – một axit polyhydroxy (PHA) nổi lên với tất cả các lợi ích của AHA nhưng lại nhẹ nhàng cho da và phù hợp cho da nhạy cảm lâm sàng, bao gồm trứng cá đỏ và viêm da dị ứng.

Sản phẩm Swanicoco PHA 10% CoCo Impact Peeling Cream

Các tác dụng có lợi của alpha-hydroxyacids (AHA) trên da đã được phát hiện bởi tiến sĩ. Van Scott và Yu trong đầu những năm 1970, bao gồm tẩy da chết, làm mịn da, chống lão hóa .Tác dụng của Gluconolactone có thể kể đến như sau: (nguồn)

  • Tăng cường chức năng của lớp skin barrier
  • Làm mềm và mịn da
  • Trị mụn
  • Giảm nhăn, kích thích sự tăng sinh collagen và elastin
  • Chống lão hóa 
  • Làm sáng da.

Trong các sản phẩm chăm sóc da, Gluconolacton có thể được dùng như một thành phần hoạt chất (một thành phần trong một công thức để cung cấp lợi ích cho da) hoặc như một chất phụ gia (một thành phần giúp cải thiện chất lượng tổng thể của sản phẩm).

Các phân tử Gluconolactone không chỉ có khả năng tẩy tế bào chết cho da mà còn có khả năng giữ ẩm – điều mà glycolic acid không làm được. Các phân tử Gluconolactone có khả năng hút nước. Khi thoa lên da chúng có thể lấy độ ẩm trong không khí và hấp thụ vào da. Do vậy, nó có tác dụng làm mềm, làm dịu da khô và bổ sung độ ẩm bị mất. Ngoài ra, Gluconolactone còn tạo thành một màng bảo vệ da, ngăn ngừa độ ẩm bị mất từ các tế bào da.

Gluconolactone cũng là một chất chống oxy hóa và chống viêm giúp bảo vệ da chống lại các tác hại của các gốc tự do được tạo ra do tiếp xúc với ánh mặt trời. Nhờ tác dụng giảm viêm,Gluconolactone có lợi cho việc điều trị mụn và đỏ da. Một nghiên cứu cho thấy rằng 14% Gluconlactone có khả năng điều trị mụn trứng cá bằng 5% benzoyl peroxide nhưng ít tác dụng phụ hơn và có thể dùng kết hợp được với Tretinoin. (nguồn)

Nhờ có tác dụng như AHA mà Gluconolactone cũng có khả năng kích thích sự tăng sinh collagen và sản sinh các tế bào mới. Người ta đã thí nghiệm và nhận thấy rằng: 20% Gluconolactone có khả năng tăng độ dày của da từ 7 – 19% trong thời gian 2-7 tháng đối với 6 đối tượng tình nguyện lớn tuổi.

Gửi phản hồi

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.